Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Câu kệ 1

Xe bò

1.
Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ dukkhamanveti, cakkaṃva vahato padaṃ.

1. 
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.


Minh Châu

1.
Ý sẽ dẫn đầu các pháp sanh
Ý làm chủ đạo, ý làm ra
Ý mà ô nhiễm hay xấu xa
Hành động nói  làm chẳng tốt mà
Khổ não về ta điều chắc chắn
Như xe bị kéo sau con vật !


2.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.
 


Minh Châu

2.
Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinī [anupāyinī (ka.)].

2.
Ý sẽ dẫn đầu các pháp sanh
Ý làm chủ đạo, ý làm ra
Ý mình thanh tịnh hiền hòa thế
Hành động nói  làm cũng tốt mà
An lạc sẽ về ta chắc chắn
Như cái bóng sẽ không rời hình!

ĐỗNguyễn

3.
Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinī [anupāyinī (ka.)].

3.
Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận thù không thể nguôi.

Minh Châu



3.
Mãi nhớ người ta đánh mắng ta
Người ta đã thắng đã hơn mà
Ai người giữ vững hờn căm ấy
Mối hận rồi đây sẽ chẳng mờ
ĐỗNguyễn

4.
Akkocchi maṃ avadhi maṃ, ajini maṃ ahāsi me;
Ye ca taṃ nupanayhanti, veraṃ tesūpasammati.

4.
Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi
Không ôm hiềm hận ấy,
Hận thù được tự nguôi.

Minh Châu 


4.
Mãi nhớ người ta đánh mắng ta
Người ta đã thắng đã hơn mà
Ai người buông bỏ hờn căm ấy
Mối hận rồi đây sẽ nhạt mờ
ĐỗNguyễn

5.
Na hi verena verāni, sammantīdha kudācanaṃ;
Averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.

5. 
Với hận diệt hận thù,
Ðời này không có được.
Không hận diệt hận thù,

Là định luật ngàn thu. 
Minh Châu

5.
Ở thế gian này hận diệt thù
Là điều không thể xảy ra đâu
Từ bi mới diệt tan hiềm hận
Định luật ngàn thu đó vĩnh hằng
ĐỗNguyễn 

392.Yamhà dhammam. vijàneyya // Sammàsambuddhadesitam. //Sakkaccam. tam. namasseyya //aggihuttam.'va bràhman.o_*_ Từ ai, biết chánh Pháp//Bậc Chánh Giác thuyết giảng,//Hãy kính lễ vị ấy,//Như Phạm chí thờ lửa.(HT-TMC)_392.Hiểu thông giáo Pháp nhờ ai//Từ Bậc Toàn Giác Như Lai giáo truyền ?//Như phạm chí thờ lửa thiêng//Ta phải thành kính khắc tên đá vàng !(TT Giới Đức)
 

392. Từ ai, biết chánh pháp
Bậc Chánh Giác thuyết giảng,
Hãy kính lễ vị ấy,
Như Phạm chí thờ lửa.

Minh Châu

392.
Chánh pháp nhờ ai được thọ trì
Đem ra thuyết giảng  chúng ta nghe
Vị ấy hãy được ta tôn kính
Như thể Bà la kính lửa hồng
ĐỗNguyễn 

ĐỗNguyễn

6.
Pare ca na vijānanti, mayamettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti, tato sammanti medhagā.

6.
Và người khác không biết,
Chúng ta đây bị hại.
Chỗ ấy, ai hiểu được
Tranh luận được lắng êm.

Minh Châu

6.
Chẳng hiểu vô thường hủy diệt ta
Do không nghĩ thế ham tranh cãi
Ai nào biết được điều này rõ
Chẳng thèm tranh luận, chẳng hơn thua
ĐỗNguyễn

7.
Subhānupassiṃ viharantaṃ, indriyesu asaṃvutaṃ;
Bhojanamhi cāmattaññuṃ, kusītaṃ hīnavīriyaṃ;
Taṃ ve pasahati māro, vāto rukkhaṃva dubbalaṃ.

7. 
Ai sống nhìn tịnh tướng,
Không hộ trì các căn,
ăn uống thiếu tiết độ,
biếng nhác, chẳng tinh cần.
Ma uy hiếp kẻ ấy,
như cây yếu trước gió.

Minh Châu

7.
Người hằng say đắm lục trần
Uống ăn vô độ
trăm phần dễ duôi!
Ma vương chúng vỗ tay cười
Cây cành mềm yếu
tơi bời gió lay!

Giới Đức

7.
Đắm đuối ham mê chốn lục trần
Buông xuôi nhiếp hộ các căn mình
Ác ma uy hiếp người như thế
Gió lốc thổi tung loài yếu mềm
ĐỗNguyễn 

8.
Asubhānupassiṃ viharantaṃ, indriyesu susaṃvutaṃ;
Bhojanamhi ca mattaññuṃ, saddhaṃ āraddhavīriyaṃ;
Taṃ ve nappasahati māro, vāto selaṃva pabbataṃ.

8.
Người hằng quán niệm tự thân
Uống ăn tiết độ
tinh cần sớm hôm
Ma vương đâu dễ khinh lờn
Gió qua núi đá
chẳng sờn, chẳng lay!

Giới Đức


8. 
Ai sống quán bất tịnh,
Khéo hộ trì các căn,
ăn uống có tiết độ,
Có lòng tin, tinh cần,
Ma không uy hiếp được,
Như núi đá, trước gió.

Minh Châu

8.
Ai chẳng tham lam đắm lục trần
Các căn thu nhiếp với hộ trì
Uống ăn tiết độ và tinh cần
Ma chẳng hơn, như gió tát đá
ĐỗNguyễn 

9.
Anikkasāvo kāsāvaṃ, yo vatthaṃ paridahissati;
Apeto damasaccena, na so kāsāvamarahati.

9. 
Ai mặc áo cà sa. [1]
tâm chưa rời uế trược,
không tự chế, không thực,
không xứng áo cà sa  

Minh Châu

9.
Người không tự chế, không chơn
Người mà tâm địa
chẳng hơn thế phàm!
Làm sao xứng mặc y vàng?
Làm sao xứng đáng
dự hàng Sa-môn?

Giới Đức

9.
Bất tịnh tâm hành, chẳng thực tâm
Người không tự chế ngự tâm thân
Làm sao xứng đáng y vàng nhỉ
Chẳng thể nào là bậc chánh nhân
ĐỗNguyễn

10.

Yo ca vantakasāvassa, sīlesu susamāhito (che ngu tot);
Upeto damasaccena, sa ve kāsāvamarahati.

10.
But one who is self-cleansed of stain,
in moral conduct firmly set,
having restraint and truthfulness
is fit for the stainless robe.

10. 
Ai rời bỏ uế trược,
giới luật khéo nghiêm trì,
tự chế, sống chơn thực,
thật xứng áo cà sa.
Minh Châu

10.
Người mà nhẫn nại tu hành
Nghiêm trì giới luật
cao thanh rỡ ràng
Khen thay! khéo mặc y vàng?
Khen thay! xứng đáng
dự hàng Sa -môn
Giới Đức
 



10.
Bỏ lại đằng sau những lỗi lầm
Nghiêm trì giới luật giỏi tu hành
Con người kiềm chế và trung thực
Mới xứng là sa môn đạo lành
ĐỗNguyễn 


67.
Na taṃ kammaṃ kataṃ sādhu, 
yaṃ katvā anutappati;
Yassa assumukho rodaṃ, 
vipākaṃ paṭisevati

67.
Nghiệp làm không chánh thiện
Làm rồi sanh ăn năn
Mặt nhuốm lệ khóc than
Lãnh chịu quả dị thục!
Minh Châu

67.
Ác nghiệp là nghiệp chẳng lành
ăn năn, hối quá phát sanh lòng người
đến khi quả dữ chín muồi
Lệ tuôn đầy mặt lạy trời khóc mưa!  
Giới Đức


67.
Bất thiện là điều chẵng tốt lành
Làm xong thì lại khóc và than
Biết rằng quả dữ dần dần tới
Hối hận ăn năn đã muộn màng
ĐỗNguyễn 

11.
Asāre sāramatino, sāre cāsāradassino;
Te sāraṃ nādhigacchanti, micchāsaṅkappagocarā.

11. Conceiving the real in unreality
while seeing unreal the truly real,
roaming fields of thoughts ill-formed:
never they at the real arrive.

11. Không chân, tướng chân thật,
chân thật, thấy không chân:
chúng không đạt chân thật,
do tà tư, tà hạnh.
Minh Châu

 
393.
Na jaṭāhi na gottena,
na jaccā hoti brāhmaṇo;
Yamhi saccañca dhammo ca,
so sucī so ca brāhmaṇo.

393.
Ðược gọi Bà la môn,
không vì đầu bện tóc ,
không chủng tộc thọ sanh,
ai thật chân,chánh , tịnh,
mới gọi là Bà la môn.
Minh Châu

393.
Chẳng vì bện tóc , thọ , sanh
chẳng vì giai cấp thanh danh gia đình
với ai chơn hạnh , tuệ , minh 
Bà la môn ấy xứng vinh gọi là
Giới Đức



393
Chẳng phải nơi sanh, tóc bện là
Hay vì chủng tộc đó sanh ra
Ai thông tứ đế chân và chánh
Mới đáng danh xưng bậc đại hiền 
ĐỗNguyễn 

394.
Kiṃ te jaṭāhi dummedha,
kiṃ te ajinasāṭiyā;
Abbhantaraṃ te gahanaṃ,
bāhiraṃ parimajjasi.

1. Kim. te jat.àhi dummedha
Kim.: cái gì, cái chi; te: của ngươi; jat.àhi: bện tóc; dummedha: người ngu
 

2. kim. te ajinasàt.iyà
Kim.: cái gì, cái chi; te: của ngươi; ajinasàt.iyà: với y phục bằng da dê
 

3. Abbhantaram. te gahan.am.
Abbhantaram.: bên trong; te: của ngươi; gahan.am.: bụi rậm
 

4. bàhiram. parimajjasi
bàhiram.: bên ngoài; parimajjasi: đánh bóng


394.
Kẻ ngu, có ích gì
Bện tóc với da dê,
Nội tâm toàn phiền não,
Ngoài mặt đánh bóng suông.
Minh Châu

394. 
Người ngu kia có ích gì
đầu thì bện tóc áo thì da dê !
Bên trong ác uế , u mê
Bên ngoài trang sức thói nề chơn tu ! 
Giới Đức

394.
Bện tóc bên ngoài áo da dê
Tâm còn phiền não vẩn si mê
Bên ngoài trang điểm dung nghi đẹp

Đấy kẻ ngu si chẳng ích chi
DỗNguyễn


T - T - B - B - T - T - B (vần)
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)
 



Duyên sự PCK Số 394, Đức Thế Tôn thuyết ra khi Ngài ngự tại Kùt.agàrasàlà, Ngài đề cập đến Bà la môn Kuhaka (Bràhman.a Vagga-Phẩm Bà La Môn).







  
 
 

Kinh Pháp cú / DHAMMAPADA 1: HT Thich Minh Chau

Lá bối



DHAMMAPADA

A. Giới thiệu:

1. Kinh Pháp cú có 26 phẩm, 423 câu kệ.

2. Tiến sĩ Casius A. Pereira, sau này xuất gia và thọ đại giới với pháp danh là Kasapa, phát biểu: "Nếu tôi phải chọn lựa bất kỳ cuốn kinh nào trong toàn bộ đại tạng kinh thì tôi sẽ chọn bản kinh Pháp cú mà không có một sự chần chừ nào hết. Bởi vì đó là bản kinh tốt nhất duy nhất trong toàn bộ hệ văn học trên thế giới này mang lại niềm khuây khoải cho những con người đang bị khổ đau hay bất hạnh. Người ta không bao giờ mất thời gian một cách vô ích để nghiên cứu giá trị vô cùng cao quý của những bài thi kệ này, hoặc là để tìm kiếm những lời khuyên cho cuộc sống hoặc là để giảm bớt khổ đau, mà là để tìm được nguồn an lạc, hân hoan và trí tuệ thể nhập".

3. Ai dịch?

Vào năm 1855, bộ tuyển tập Pháp cú được một học giả thông thái người Đức Fauboll  chuyển dịch sang ngôn ngữ Latinh. Năm 1870, giáo sư Max Muller chuyển dịch bộ này sang Anh ngữ và lập tức sau đó được đông đảo quần chúng tại phương Tây ủng hộ và họ yêu cầu xuất bản bộ tuyển tập này nhiều lần. Năm 1914, Hội Pàli Text tái xuất bản Bộ Kinh Pháp cú này và ông F.L.Woodward dịch sang Anh ngữ vào năm 1921. Giới học giả và những người có trình độ học thức Tây phương, không phân biệt niềm tin tôn giáo, đã nghiên cứu bộ Pháp cú nhằm giúp họ phát triển về tâm linh để mà tự bản thân họ có thể thanh tịnh hoá tâm thức của mình không còn bị nhiễm ô bởi đám mây vô minh che khuất. Ngày nay, nhiều người Âu Châu bắt đầu theo đạo Phật và tìm hiểu kinh điển Phật giáo. Họ nhận ra rằng Kinh điển Phật giáo là một chân lý không mang tính chất giáo điều.
Bộ Pháp cú không phải do chính đức Phật thuyết giảng như hình thức của bộ kinh hiện nay. Ba tháng sau khi đức Phật nhập Bát Niết Bàn (Maha-Parinibbana), vào năm 543 trước Tây Lịch, chư vị đệ tử của Ngài, những vị tham gia kết tập Thánh điển ở hội nghị kết tập lần thứ nhất nhằm trùng tuyên Pháp, đã sưu tập một số trong những bài kinh được thuyết giảng chính từ kim khẩu đức Phật trong những lần thuyết giảng khác nhau và sắp xếp chúng lại theo như hình thức hiện nay với mục đích làm cho thích hợp với tâm lý và tính cách của giới độc giả và người nghe.
Một bản Sớ giải rất giá trị về bản Kinh Pháp cú đã được giáo sư E.W. Burlingame (Tích truyện Pháp Cú - Buddhist Legends), chuyển dịch sang Anh ngữ, với quan niệm là khiến cho con người của thời đại chú ý đến hệ thống triết lý, luân lý, đạo đức của Phật giáo chứa đựng trong bản kinh này.
--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/dhp-gt02.htm

B. Các bản Kinh Pháp cú

1. Kinh Pháp Cú (song ngữ Anh-Việt)

 
Bản dịch Anh ngữ của Tỳ kheo Khantipalo, và bản dịch Việt ngữ của Hòa thượng Thích Minh Châu. 


(1) Song yếu
(2) Không phóng dật
(3) Tâm
(4) Bông hoa
(5) Người ngu
(6) Người trí
(7) A-la-hán
(8) Ngàn
(9) Ác
(10) Ðao trượng
(11) Già
(12) Tự ngã
(13) Thế gian
(14) Phật-đà
(15) An lạc
(16) Hỷ ái
(17) Phẫn nộ
(18) Cấu uế
(19) Pháp trụ
(20) Ðạo
(21) Tạp
(22) Ðịa ngục
(23) Voi
(24) Tham ái
(25) Tỷ kheo
(26) Bà-la-môn


Ví dụ:

160. Oneself is refuge of oneself,
who else indeed could refuge be?
By good training of oneself
one gains a refuge hard to gain.

160. Tự mình y chỉ mình,
Nào có y chỉ khác.
Nhờ khéo điều phục mình,
Ðược y chỉ khó được.

--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/dhp_idx.htm


2. Thi kệ Pháp Cú Pali-Anh-Việt/ Việt: Tịnh Minh

Anh: Narada
 

  



 
Attaa hi attano naatho ko hi naatho paro siyaa
Attanaa-va sudantena naatha.m labhati dullabha.m. --
160

Oneself, indeed, is one's saviour,
for what other saviour would there be?
With oneself well controlled,
one obtains a saviour difficult to find. -- 160


160. Hãy nương tựa chính mình,
Chứ nương tựa ai khác?
Người khéo điều phục mình,
Ðạt chỗ tựa khó đạt.
--http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/pctm-00.htm 


3. Kinh Lời Vàng/ (Thi hóa Dhammapada Sutta)
Tỳ kheo Giới Đức (Minh Đức - Triều Tâm Ảnh) Huyền Không, Huế, 1995
 
MỤC LỤC

Phẩm
Số Kệ
[01] I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
Song Yếu
Không Phóng Dật
Tâm
Hoa
Kẻ Ngu
Hiền Trí
A-La-Hán
Ngàn
Ác
Hình Phạt
1 - 20
21 - 32
33 - 43
44 - 59
60 - 75
76 - 89
90 - 99
100 - 115
116 - 128
129 - 145
[02] XI
XII
XIII
XIV
XV
XVI
XVII
XVIII
XIX
XX
Già
Tự Ngã
Thế Gian
Phật-Đà
An Lạc
Hỷ Ái
Phẫn Nộ
Cấu Uế
Pháp Trụ
Đạo
146 - 156
157 - 166
167 - 178
179 - 196
197 - 208
209 - 220
221 - 234
235 - 255
256 - 272
273 - 289
[03] XXI
XXII
XXIII
XXIV
XXV
XXVI
Tạp Lục
Địa Ngục
Voi
Tham Ái
Tỷ Kheo
Bà-La-Môn
290 - 305
306 - 319
320 - 333
334 - 359
360 - 382
383 - 423


160.Tự ta nương tựa cho ta Có ai "y chỉ" [*]gần xa mà cầu!Tự mình điều phục làm đầu
"Y chỉ" khó được,
tu lâu, được rồi!
[*] nương tựa


--http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/klv-00.htm
 

4. Tâm Minh NGÔ TẰNG GIAO chuyển dịch thơ DIỆU PHƯƠNG xuất bản, Hoa Kỳ, 2003

MỤC LỤC

Phẩm
Số Kệ
[01] I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
Song Song
Không Buông Lung
Tâm
Hoa
Người Ngu
Người Trí
A La Hán
Ngàn
Ác
Dao Gậy
1 - 20
21 - 32
33 - 43
44 - 59
60 - 75
76 - 89
90 - 99
100 - 115
116 - 128
129 - 145
[02] XI
XII
XIII
XIV
XV
XVI
XVII
XVIII
XIX
XX
Già
Chính Mình
Thế Gian
Đức Phật
An Lạc
Yêu Thích
Phẫn Nộ
Dơ Bẩn
Trọng Pháp
Con Đường
146 - 156
157 - 166
167 - 178
179 - 196
197 - 208
209 - 220
221 - 234
235 - 255
256 - 272
273 - 289
[03] XXI
XXII
XXIII
XXIV
XXV
XXVI
Tạp Lục
Địa Ngục
Voi
Ái Dục
Tỳ Kheo
Bà La Môn
290 - 305
306 - 319
320 - 333
334 - 359
360 - 382
383 - 423


(160)
Tự mình là vị cứu tinh
Tự mình nương tựa vào mình tốt thay
Nào ai cứu được mình đây?
Tự mình điều phục hàng ngày cho chuyên
Thành ra điểm tựa khó tìm.

VÀI HÀNG VỀ NGƯỜI DỊCH:

* Tên thật: NGÔ TẰNG GIAO* Bút hiệu: TÂM MINH* Sinh tại Hà Nội. Trưởng thành tại Sài Gòn. Lập nghiệp tại Đà Lạt.* Quy y tại chùa Linh Sơn, Đà Lạt, Pháp danh Tâm Minh.* Gia nhập Luật Sư Đoàn Sài Gòn (1962) và Ban Giảng Huấn Viện Đại Học Đà Lạt (1966).* Tạm cư tại Virginia, Hoa Kỳ vào mùa Lễ Tạ Ơn 1989 cùng vợ và ba con.
Tâm Minh NGÔ TẰNG GIAO45481 Caboose TerraceSterling - VA 20166 - USA

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TIẾNG ANH:

(1) THE DHAMMAPADA,Narada Thera,Reprinted by The Corporate Body Of The Buddha Educational Foundation (Taiwan), 1993.
(2) THE DHAMMAPADA,Juan Mascaró,Penguin Classics, 1973.
(3) THE DHAMMAPADA, The Sayings of The Buddha,John Ross Carter and Mahinda PalihawadanaOxford World's Classics, 2000.
(4) DHAMMAPADA, a TranslationThanissaro BhikkhuDhamma Dana Publications, 1999.
(5) THE DHAMMAPADA, the Path of TruthAnanda MaitreyaParallax Press, 1995
(6) THE DHAMMAPADA, An Anthology Of Buddhist VersesJohn RichardsPembrokeshire, United Kingdom,1993
(7) DHAMMAPADA, The Sayings of The BuddhaThomas ByromShambhala Boston & London, 1993.
II. TIẾNG VIỆT:
(1) KINH PHÁP CÚThích Trí ĐứcSài Gòn, 1959.
(2) LỜI PHẬT DẠY,Thích Thiện SiêuHoc Viện Phật Giáo Việt Nam, Huế, 2000.
(3) KINH LỜI VÀNGThích Minh ChâuViện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1969.
(4) KINH PHÁP CÚThích Minh ChâuViện Nghiên Cứu Phật Học VN, TP. HCM, 1996.
(5) TRÍCH TỤNG PHÁP CÚ NAM TÔNGThích Trí QuangNXB Tôn Giáo, VN, 2001
(6) KINH PHÁP CÚPhạm Kim Khánh(dịch The Dhammapada của Narada Thera)Chùa Đức Viên, CA, USA, 1988.
(7) THI KỆ PHÁP CÚ KINHTịnh Minh(dịch The Dhammapada của Narada Thera)Trường Cao Cấp Phật Học TP. HCM, 1995.
(8) LỜI PHẬT DẠYĐinh Sĩ Trang (Australia)Văn Nghệ, CA, USA, 2001.
(9) KINH LỜI VÀNGGiới Đức (Minh Đức - Triều Tâm Ảnh)(thi hóa Dhammapada)Huyền Không, Huế, 1995.
(10) SUỐI NGUỒN VI DIỆUPhạm Thiên Thư(thi hóa tư tưởng Pháp Cú Kinh)Chùa Khánh Anh (Pháp), 1993.
(11) TÌM HIỂU VÀ HỌC TẬP KINH PHÁP CÚThiện Nhựt (Canada), 2002.
(12) TÍCH TRUYỆN PHÁP CÚViên Chiếu (NXB TP. HCM), 2000.

--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/tamminh00.htm

5. Trích Tụng Pháp Cú Nam Tông
Hòa thượng Thích Trí Quang

Lời dặn khi in riêng

Ðây là tiểu phẩm viết lại phần năm "Trích Pháp Cú Nam Tông" của cuốn Ðọc Pháp Cú Nam Tông. Viết lại bằng mỗi câu bốn chữ cho dễ tụng hơn. Tụng thì mỗi lần tụng trọn tiểu phẩm hay mỗi lần chỉ tụng một vài đoạn tùy thích. Dầu tụng cách nào cũng đừng bỏ đoạn đầu (Chú nguyện) và đoạn cuối (San sẻ).
Trí QuangPL 2544 - TL 2000
Ghi chú: Đây chỉ là phần "Trích Pháp Cú", do Hòa thượng Thích Trí Quang trích ra 236 câu kệ cho công phu trì tụng. Xin tìm đọc bộ "Đọc Pháp Cú Nam Tông" - 2 quyển - có phần dịch văn xuôi toàn bộ Pháp Cú 423 câu kệ, cùng với các chú giải và điển tích (nxb Tôn Giáo, Việt Nam, 2001).-- Bình Anson, tháng 07-2001.

Pc. 160

Hãy tự làm vị
cứu tinh cho mình!
Những người ngoài mình
làm sao làm được
cứu tinh cho mình?
Bởi vì chính sự
tự chế ngự mình
là vị cứu tinh
khó thể có ấy.
--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/pctung-00.htm
 
6. KINH PHÁP CÚ DHAMMAPADA 
Nārada Mahāthera, Phạm Kim Khánh 

Nguyên tác Pāli, bản dịch Việt ngữ cùng với câu chuyện dẫn tích tóm tắt và chú thích
Tác giả: Nārada Mahāthera
Người dịch: Phạm Kim Khánh, 1971

KỲ VIÊN TỰ tái bản, 2003E-mail: kyvientu@hcm.vnn.vn


MỤC LỤC
[01] Yammaka Vagga Song Yếu
[02] Appamāda Vagga Chuyên Niệm
[03] Citta Vagga Tâm
[04] Puppha Vagga Hoa
[05] Bāla Vagga Cuồng Dại
[06] Paṇṇdita Vagga Bậc Thiện Trí
[07] Arahanta Vagga A-La-Hán
[08] Sahassa Vagga Ngàn
[09] Pāpa Vagga Ác
[10] Daṇḍa Vagga Gậy gộc, hay hình phạt
[11] Jarā Vagga Tuổi già
[12] Atta Vagga Tự ngã
[13] Loka Vagga Thế Gian
[14] Buddha Vagga Phật
[15] Sukha Vagga Hạnh Phúc
[16] Piya Vagga Thân Ái
[17] Kodha Vagga Sân Hận
[18] Mala Vagga Uế Trược, hay Ô Nhiễm
[19] Dhammattha Vagga Công Bằng, Chánh Hạnh
[20] Magga Vagga Con Ðường
[21] Pakiṇṇaka Vagga Tạp Lục
[22] Niraya Vagga Khổ Cảnh
[23] Nāga Vagga Voi
[24] Taṇhā Vagga Ái Dục
[25] Bhikkhu Vagga Tỳ-khưu
[26] Brāhmaṇa Vagga Bà-La-Môn


Tích chuyện

Ni cô kia hạ sanh một trai mà bà đã thọ thai lúc chưa xuất gia. Vua nuôi đứa trẻ. Về sau, cậu bé lớn lên cũng xin xuất gia và đắc quả A-La-Hán. Tuy nhiên, ni cô không thể dứt tình mẫu tử. Ngày kia, thấy vị Tỳ-khưu, con bà, đi trì bình, bà đến gần với tất cả tấm lòng ưu ái, nhưng ông con không đáp lại sự trìu mến ấy. Thái độ của người con thức tỉnh, thúc giục bà sớm dập tắt tâm luyến ái và đắc quả A-La-Hán. Nghe bà chứng ngộ đạo quả, Ðức Phật giải thích rằng vị cứu tinh, hay chỗ nương tựa, của ta, phải là chính ta chớ không ở đâu khác.  

 --
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/pkk-00.htm

7. Tích truyện Pháp Cú Thiền viện Viên Chiếu
Nguyên tác: "Buddhist Legends",
Eugène Watson Burlingame
   

Mục Lục    
Lời nói đầu
Dẫn nhập
 


1. Nếu con mắt ngươi làm hại ngươi, hãy móc bỏ nó đi
2. Khóc đòi những chuyện trên trời
3. Chàng mập Tissa
4. Không lấy oán trả oán
5. Những vị Tỳ-kheo hay cãi cọ xứ Câu-thâm (Kosambi)
6. Kala anh và Kala em
7. Ðề-bà-đạt-đa đắp y không tương xứng.
8. Những đại đệ tử
9. Trưởng lão Nan-đà
10. Cunda - đồ tể mổ heo
11. Cư sĩ hiền thiện
12. Nghiệp của Ðề-bà-đạt-đa
13. Bà Sumanà
14. Chuyện hai huynh đệ
 


1. Những chuyện luân hồi quanh vua Udena
2. Tiếng nói của một người giàu
3. Châu-lợi-bàn-đặc
4. Ngày lễ của kẻ ngu
5. Ðại Ca-diếp
6. Hai huynh đệ
7. Magha trở thành trời Sakka
8. Một Tỳ-kheo chứng A-la-hán
9. Tissa ở phố chợ
 


1. Trưởng lão Meghiya
2. Người đọc được tâm
3. Một Tỳ-kheo bất mãn
4. Tăng hộ cháu
5. Trưởng lão tâm được điều phục
6. Tỳ-kheo và thần cây
7. Vì bạo ác nổi mụn nhọt
8. Nanda chăn bò
9. Vừa là mẹ vừa là cha
 


1. Ðất của tâm
2. Một Tỳ-kheo chứng A-la-hán
3. Vua Vidùdabha trả thù họ Thích-ca
4. Người tôn vinh chồng
5. Kosiya keo kiệt
6. Ẩn sĩ lõa thể Pàthika
7. Vua và vua các vua.
8. Ðám cưới bà Tỳ-xá-khư
9. Câu hỏi của trưởng lão A-nan
10. Ðế Thích cúng dường Ðại Ca-diếp
11. Godhica chứng Niết-bàn
12. Sirigutta Garahadinna
 


1. Nhà vua và người nghèo có vợ đẹp
2. Một tăng sinh khó dạy
3. Kẻ vận rủi trong nhà
4. Kẻ móc túi
5. Trí ngu
6. Từ trụy lạc tới đức hạnh
7. Một người cùi bị thử thách phủ nhận niềm tin
8. Một nông dân bị kết tội oan
9. Sumana - người làm vườn
10. Uppalavannà bị cưỡng bức
11. Ðạo sĩ lõa thể Jambuka
12. Quỷ rắn và quỷ quạ
13. Quỷ búa tạ
14. Citta và Sudhamma
15. Sa-di bảy tuổi được lòng mọi người
 


1. Một người được kho báu tinh thần
2. Những Tỳ-kheo ương ngạnh
3. Trưởng lão Xa-nặc
4. Trưởng lão đại Kappina
5. Sa-di Pandita
6. Vững vàng như đá tảng
7. Yên lặng sau cơn bão
8. Một lũ lang thang
9. Chồng và vợ
10. Ít người đến bờ kia
11. Từ bỏ đen tối.
 


1. Ðấng Như Lai không đau khổ
2. Thoát khỏi trói buộc
3. Một Tỳ-kheo trữ thức ăn
4. Tỳ-kheo và nữ thần
5. Ðế Thích lễ kính một Tỳ-kheo
6. Tưởng mình bị khi dễ
7. Mất một mắt
8. Không tin vào ai khác
9. Trưởng lão Revata trong rừng keo
10. Một kỹ nữ cám dỗ một Tỳ-kheo
 


1. Tên đao phủ
2. Sự chuyển hóa của Bàhiya Dàruciriya
3. Cô gái lấy tên cướp
4. Ðược và mất
5. Chú của Xá-lợi-phất
6. Cháu của Xá-lợi-phất
7. Bạn của Xá-lợi-phất
8. Chàng trai tăng tuổi thọ
9. Sa-di Samkicca
10. Tỳ-kheo và kẻ cướp
11. Lưỡi dao cạo
12. Patacara bị mất cả gia đình
13. Kisà Gotami tìm hạt cải trị bệnh cho đứa con đã chết
14. Góa phụ Bazhuputtikà và những đứa con bất hiếu
 


1. Bà-la-môn tiểu nhất y
2. Một Tỳ-kheo bất mãn
3. Thiên nữ với Tỳ-kheo
4. Cấp Cô Ðộc và nữ thần
5. Tỳ-kheo không giữ gìn tốt đồ dùng
6. Chưởng khố chân mèo
7. Thương gia đại phú
8. Người thợ săn bắn mê muội
9. Thợ săn bị bầy chó của mình nuốt sống
10. Thợ kim hoàn, Tỳ-kheo và con ngỗng
11. Ba nhóm Tỳ-kheo
12. Suppabuddha lăng nhục đạo sư
 


1. Lục quần Tỳ-kheo
2. Lục quần Tỳ-kheo
3. Một bầy trẻ
4. Tỳ-kheo và con ma
5. Tỳ-xá-khư và quyến thuộc giữ bát quan trai
6. Ngạ quỷ hình trăn
7. Cái chết của Ðại Mục-kiền-liên
8. Tỳ-kheo lắm của
9. Santati, quan đại thần của vua
10. Tỳ-kheo và bộ đồ rách
11. Sa-di Sukha
 


1. Bạn của Tỳ-xá-khư say rượu
2. Ðức Phật chữa trị một Tỳ-kheo lụy tình
3. Bà ni già
4. Nhóm Tỳ-kheo cả tin
5. Ni cô và bóng sắc
6. Hoàng hậu Millikà và con chó
7. Một Tỳ-kheo thường nói không đúng chỗ
8. Kệ của Trưởng lão A-nan
9. Ðại phú, con của chưởng khố.
 


1. Hoàng tử Bồ-đề và con chim thần
2. Một Tỳ-kheo tham lam
3. Hãy hành động theo lời nói
4. Ðừng ghét bỏ cha mẹ
5. Mahà Kàla bị giết
6. Ðề-bà-đạt-đa tìm cách giết Phật
7. Ðề-bà-đạt-đa gây chia rẽ trong Tăng đoàn
8. Vị Tỳ-kheo đố kỵ
9. Cô gái giang hồ cứu mạng một cư sĩ
10. Tu tập chân chánh để tôn quý Thế Tôn
 


1. Một thiếu nữ chế giễu thầy Tỳ-kheo trẻ
2. Ðức Phật về thăm Ca-tỳ-la-vệ
3. Năm trăm Tỳ-kheo chứng quả
4. Hoàng tử Vô úy (Abhaya) mất hầu thiếp
5. Thầy Tỳ-kheo và cây chổi
6. Câu chuyện của Chỉ Man
7. Cô bé dệt vải
8. Ba mươi vị Tỳ-kheo
9. Chiến Già vu khống Phật
10. Phẩm vật không thể nào so sánh
11. Ðức hạnh được trả giả
 


1. Ðấng toàn giác
2. Thần thông song hành
3. Long vương và ái nữ
4. Phương cách giáo giới trong ngày bố-tát của bảy đời đức Phật
5. Phật trị bệnh bất mãn cho thầy Tỳ-kheo
6. Sa-môn và Long vương
7. Người cao quý sinh ra ở đâu?
8. Ðiều gì hạnh phúc nhất trên đời
9. Tôn kính những bậc đáng tôn kính
 


1. Mối tranh chấp giữa hai lân bang
2. Ma vương chế ngự thôn dân
3. Vua Ba-tư-nặc bại trận
4. Ðừng nhìn say đắm nữ nhân
5. Phận ban thức ăn cho người đói
6. Ăn uống tiết độ
7. Sống chân chánh là tôn kính Phật
8. Ðế Thích săn sóc Thế Tôn
 


1. Cha mẹ và con
2. Phật an ủi người phiền muộn
3. Phật an ủi kẻ ưu sầu
4. Các hoàng tử Lệ-xá và kỹ nữ
5. Cô nương tử kim
6. Ðừng để tâm vào của cải thế gian
7. Ngài Ca-diếp được cúng bánh
8. Tôn giả chứng quả A-na-hàm
9. Nandiya được sanh thiên
 


1. Sân hận tàn phá dung nhan
2. Thọ thần và thầy Tỳ-kheo
3. Người nghèo và cô con gái
4. Việc thiện nhỏ đưa đến thiên giới
5. Bà-la-môn đón Phật như con
6. Có phải người tặng quà làm nên quà tặng
7. Không có gì quá nhiều, quá ít
8. Lục quần Tỳ-kheo.
 


1. Người đồ tể và đứa con trai
2. Dần dà từng chút
3. Con rận tiếc của
4. Thầy Tỳ-kheo kiêu ngạo
5. Tà hạnh của nữ nhân
6. Lịch sự và thô lỗ
7. Tất cả giới cấm đều khó giữ
8. Kẻ bới lỗi người khác
9. Những người lơ đễnh
10. Trưởng giả Ram
11. Tỳ-kheo bới lỗi
12. Hư không có dấu chân?
 


1. Quan tòa bất công
2. Lục quần Tỳ-kheo
3. Không phải vì nói nhiều mà được ca tụng
4. Người trẻ có thể là trưởng lão?
5. Thế nào là người hoàn toàn?
6. Ðầu trọc không làm nên Tỳ-kheo
7. Ðiều gì làm nên Sa-môn
8. Không phải im lặng làm nên bậc thánh
9. Cao quí là hành động cao quí
10. Ðừng tự mãn
 


1. Bát chánh đạo là đường tối thượng
2. Vô thường
3. Khổ
4. Vô ngã
5. Chớ hẹn ngày mai
6. Con quỉ đầu heo
7. Pothila, ông sư rỗng
8. Các lão Tỳ-kheo và lão bà
9. Cỏ úa, hoa phai
10. Chắc chắn sẽ chết
11. Người mẹ mất con và những hạt cải
12. Người đàn bà mất hết thân quyến
 


1. Sông Hằng dâng nước
2. Không lấy oán báo oán
3. Các Tỳ-kheo phù hoa
4. Sa-môn giết cha mẹ
5. Cậu bé và quỉ dữ
6. Hoàng tử Bạt-kỳ làm sa-môn
7. Cư sĩ Tâm - người thành tín
8. Cô gái đức hạnh
9. Vị sa-môn độc cư
 

Phẩm XXII: Ðịa Ngục  

1. Cái chết của Tôn-đà-ly
2. Con quỷ xương khô
3. Xảo thuật tìm thức ăn
4. Kẻ đào hoa
5. Thầy sa-môn tự phụ
6. Người vợ ghen tuông
7. Tự canh phòng như giữ thành
8. Các đạo sĩ lõa thể
9. Trẻ con quy y Phật
 


1. Phật bị lăng nhục
2. Thầy sa-môn luyện voi
3. Lão Bà-la-môn và các con
4. Ăn uống điều độ
5. Chú tiểu và dạ xoa
6. Con voi sa lầy
7. Voi làm thị giả Phật
8. Ma vương cám dỗ Phật.
 


1. Con cá vàng
2. Con heo nái tơ
3. Thầy Tỳ-kheo bỏ đạo
4. Ngôi nhà tù
5. Sắc đẹp phù du
6. Chàng trai có cô vợ diễn viên nhào lộn
7. Xạ thủ trẻ tài ba
8. Ma vương chẳng nhát được La-hầu-la
9. Nhà tu khổ hạnh hoài nghi
10. Pháp thí thắng mọi thí
11. Quan chưởng khố không con
12. Bố thí nhiều và bố thí ít
 


1. Giữ gìn ngũ căn
2. Thầy Tỳ-kheo giết ngỗng
3. Thầy Tỳ-kheo không giữ gìn mồm miệng
4. Bằng sự tinh tấn làm vinh dự cho Phật
5. Thầy Tỳ-kheo lạc bầy
6. Người Bà-la-môn cúng dường năm lần thành quả đầu tiên
7. Ðảng cướp đi tu
8. Cỏ úa, hoa phai
9. Vị sa-môn nhàn tịnh
10. Vị sa-môn và chiếc khố rách
11. Người thầy chánh pháp là thầy ta
12. Vị sa-môn và long vương
 
1. Bà-la-môn đại hỉ
2. Thế nào là "hai trạng thái"?
3. Thế nào là bờ kia?
4. Thế nào là Bà-la-môn?
5. Ðức Phật sáng ngời
6. Thế nào là Tỳ-kheo?
7. Ðức nhẫn nại chinh phục sự tàn ác
8. Ngài di mẫu thọ giới
9. Tôn kính người đáng tôn kính
10. Thế nào là Bà-la-môn?
11. Người Bà-la-môn gian xảo
12. Bà Kisa Gotami, vị Tỳ-kheo ni tu hạnh đầu đà
13. Thế nào là Bà-la-môn?
14. Diễn viên xiếc Uggasena
15. Tranh cãi về sức kéo
16. Ðức Thế Tôn chế ngự kẻ sân giận
17. Tôn giả Xá-lợi-phất bị mẹ mắng
18. A-la-hán có phàm thân hay không?
19. Người nô lệ trút gánh nặng
20. Khemà trí tuệ
21. Vị sa-môn và thiên thần
22. Vị sa-môn và người đàn bà
23. Bốn vị sa-di
24. Tôn giả Ðại-bàn-đặc có còn sân giận không?
25. Sức mạnh tập khí
26. Thầy Tỳ-kheo bị kết tội trộm cắp
27. Tôn giả Xá-lợi-phất bị hiểu lầm
28. Tôn giả Mục-kiền-liên bị hiểu lầm
29. Bỏ cả tốt lẫn xấu
30. Tôn giả Nguyệt Quang
31. Bảy năm trong bụng mẹ
32. Cô gái giang hồ quyến rũ thầy Tỳ-kheo Sundarasamudda
33. JotikaJatila
34. Vua A-xà-thế đánh chiếm lâu đài Jotika
35. Người diễn kịch câm xuất gia làm sa-môn
36. Người diễn kịch câm xuất gia làm sa-môn
37. Người gõ đầu lâu
38. Ông bà Visàkha
39. Angulimàla, Vô não
40. Phạm hạnh của thí chủ quyết định phước báo của cúng dường
  Phần kết   --http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/ttpc00.htm 

Lời Nói Ðầu
 
Tập "Tích Truyện Pháp Cú" này được dịch theo bản Anh ngữ "Buddhist Legends" của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli. Tương truyền Pháp Cú Sớ Giải là công trình của ngài Buddhaghosa (Phật Âm), sống khoảng thế kỷ thứ V Tây lịch.Nhận thấy sự lợi ích rộng lớn của nó, chúng tôi phụng dịch để đóng góp vào nền Phật học nước nhà. Tuy cố gắng hết sức, nhưng không sao tránh khỏi những thiếu sót, kính mong chư vị Cao Túc thương tình tha thứ cho.Chúng con cũng xin tri ân Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ cho việc in ấn dịch phẩm. 

Kính ghi,
Thiền viện Viên Chiếu
Cuối năm Ất Hợi, 1995.
 

Dẫn Nhập


Kính lạy đức Thế Tôn Phật Ðà, đấng Toàn Thiện Toàn Giác.

Con xin cúi đầu đảnh lễ Phật, đảnh lễ Pháp, đảnh lễ Tăng.

Cả thế gian chìm trong đêm tối dày đặc của vô minh phiền não. Ngài cũng ở thế gian mà quét sạch được nó. Với năng lực siêu phàm chứng đạt được, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp.

Ngài là bậc Toàn Trí, phân biệt rành mạch chơn ngụy trong mọi vấn đề. Ðấng Ðạo sư đã thuyết nói chánh pháp, vì lòng từ vô lượng đã giảng giải giáo pháp theo căn cứ, khiến trời người đều được an vui, mãn nguyện.

"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".

Ðấy là ước nguyện của Trưởng lão Kumàra Kassapa đã thổ lộ với tôi, vị Trưởng lão đã khéo tự điều phục được mình, hằng sống với tâm an tịnh, chí nguyện luôn kiên trì. Ngài chân tình khuyến thỉnh tôi, do lòng mong muốn Chánh pháp được trường tồn.

Vì vậy, tôi sẽ thay thế thổ ngữ đầy những lối diễn đạt dài dòng này, phiên dịch tác phẩm qua thứ tiếng thông dụng, êm ái, dễ nghe của kinh điển. Những điểm nào khó hiểu, chưa rõ nghĩa trong các câu kệ, dù chữ hay lời, tôi xin sẽ làm sáng tỏ. Phần còn lại, tôi sẽ trình bày bằng tiếng Pàli, phù hợp với tinh thần các câu kệ. Như thế, tôi mong sẽ đem đến an vui, mãn nguyện cho tâm bậc hiền trí về cả hai mặt đạo và đời.

Tác giả bản Pàli.


8. Trích giảng Kinh Pháp Cú

(*) Bài giảng về Kinh Pháp Cú. Hòa thượng Thích Minh Châu.
(*) Nếp sống đạo hạnh và trí tuệ trong Kinh Pháp Cú. Hòa thượng Thích Minh Châu.
(*) Trích giảng Kinh Pháp Cú. Hòa thượng Thích Thanh Từ.
(*) An lạc - Khát vọng của mọi hành trình. Tịnh Minh.
(*) Ðức Bổn Sư - Hình ảnh của lòng kiên định. Tịnh Minh.
(*) Tinh cần giữa phóng dật. Tịnh Minh.
(*) Biết đủ thì an lành. Tịnh Minh.
(*) Hãy để tâm bình yên. Tỳ kheo Na Tiên.
(*) Ðoạn diệt để giải thoát. Bình Anson.
(*) Ðạo đức Phật giáo qua kinh Pháp Cú. Thích nữ Giới Toàn.
(*) Nghiên cứu so sánh văn bản kinh Pháp Cú chữ Hán và chữ Pàli. Thích nữ Nguyệt Chiếu.
(*) Giá trị thẩm mỹ trong kinh Pháp Cú. Thích Huệ Quang.
(*) Kệ ngôn kinh Pháp Cú số 295. Tỳ kheo Chánh Minh.
(*) Tìm hiểu kinh Pháp Cú. Tâm Minh Ngô Tằng Giao.


--
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-phapcu-ev/dhp_idx.htm

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Họa bài thơ Xuân

Mixpult 1.5.2015

 The sound of silence

Xuân



Ngắm nhìn tuyết phủ núi cao

Trời Tây lạnh lẽo, mai đào cách xa

Mái nhà sương phủ trắng mờ

Quyện trong sợi khói hững hờ bay bay


Trời Nam Xuân thịnh Đông tàn

Xưa thường hoài niệm, chứa chan vui buồn

Duyên lành chợt thấy tùy duyên

Đông xuân cũng chỉ hão huyền đến đi


Mai vàng đượm thắm tầng không

Xuân đi Xuân đến ngõ lòng vắng tênh

Hồn nhiên giọt nắng rong chơi

Hòa trong vô tận đất trời hương Xuân.


Xuân qua Xuân lại đến

Tuổi đời ngày một già

Chỉ tâm còn trẻ mãi

Ngắm trời đất bao la!

Viên Minh


Xuân

Ngắm nhìn tuyết phủ sơn đầu bạc,
Lạnh lẽo trời tây mai đào xa
Sương phủ mái nhà trong nắng nhạt
Quyện trong sợi khói lững lờ bay

Trời nam xuân thịnh đông vừa qua
Thuở ấy hay nhìn những nổi buồn
Vạn vật ai ngờ tùy duyên đến
Thu đông xuân hạ đổi thay luôn


Mai vàng đượm thắm một tầng không
xuân lại Xuân đi  mang nổi nhớ
Giọt nắng hồn nhiên rong chơi mãi
Hòa trong vô tận đất trời xuân

Xuân qua xuân lại vẫn xoay vần
Tuổi đời ngày qua già thêm nửa
Chỉ tâm còn trẻ cùng đất trời
Ngắm nhìn vũ trụ với trăng sao! 

ĐỗNguyễn

Phật và Angulimala

Vườn xưa

Cuộc gặp gỡ giữa Phật và Angulimala


Rồi Thế Tôn hiện thần thông lực một cách làm cho tên cướp Angulimala, dầu cho đi với tất cả tốc lực của nó cũng không có thể bắt kịp Thế Tôn đang đi với tốc lực bình thường. Rồi tên cướp Angulimala suy nghĩ: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Ta trước đây đuổi theo con voi đang chạy và bắt kịp nó, đuổi theo con ngựa đang chạy và bắt kịp nó, đuổi theo chiếc xe đang chạy và bắt kịp nó, đuổi theo con nai đang chạy và bắt kịp nó. Nay dẫu ta đi với tất cả tốc lực của ta cũng không thể bắt kịp Sa-môn này đang đi với tốc lực bình thường". Nó thưa với Thế Tôn:
-- Hãy đứng lại, Sa-môn! Hãy đứng lại, Sa-môn!
-- Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại!
Rồi tên cướp Angulimala suy nghĩ: "Những Sa-môn Thích Tử này là những người nói sự thật và chấp nhận sự thật. Và Sa-môn này dẫu cho đang đi lại nói: "Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại". Vậy ta hãy hỏi vị Sa-môn này". Rồi tên cướp Angulimala với bài kệ nói với Thế Tôn:
-- Người đi lại nói: "Ta đã đứng rồi",
Ta đứng, Ngươi nói: "Sao ta không đứng?"
Sa-môn, ta hỏi về ý nghĩa này,
Sao Ngươi đứng lại, còn ta không đứng?

-- Angulimala, Ta đã đứng rồi.
Với mọi chúng sanh, Ta bỏ trượng, kiếm,
Còn ngươi hữu tình, không tự kiềm chế,
Do vậy, Ta đứng, còn Ngươi chưa đứng.

-- Ðã lâu tôi kính, bậc Ðại Tiên Nhân,
Nay Sa-môn này bước vào Ðại Lâm.
Không lâu, tôi sẽ đoạn trừ ác pháp,
Sau khi được nghe pháp kệ của Ngài.

Nói xong tên cướp liền quăng bỏ kiếm,
Quăng bỏ khí giới xuống vực thâm sâu,
Tên cướp đảnh lễ dưới chân Thiện Thệ,
Ngay tại chỗ ấy, xin được xuất gia.

Ðức Phật từ bi, bậc Ðại Tiên Nhân,
Ðạo Sư Nhân giới, cùng với Thiên giới,
Ngài đã trả lời: "Thiện lai Tỷ-kheo".
Uy đức Tỷ-kheo được Ngài xác chứng.

Mai



Căn nhà kỷ niệm

Mai

Mỹ hương thanh lộ xa xưa
Em người con gái chiều mưa thầm thì
Bao chàng trai trẻ chi chi
Nhìn cô xinh xắn có si chút nào?

Thời gian và lại gian thời
Người con gái trẻ chỉ là bóng xưa
Thời gian trôi mãi chiều mưa,
Xin trời trả lại tuổi xanh ngày nào!

ĐỗNguyễn
.. hôm qua gặp lại những Oldfriends, gặp Mai và Hải..


Hải

Anh là người bạn cố tri,
Chiều nay gặp gỡ hàn huyên thật nhiều.
Theo anh về lại điều hiu,
Căn nhà xưa cũ hoa hồng rực vui!

ĐỗNguyễn
.. Hải mời ghé nhà, nơi ngày xưa tụ họp của Oldfriends.. 

Tự ngã

Hi Ngộ,

Hôm nay anh trình bày về Tự ngã .. 1 đề tài rắc rối..

Định nghĩa tự ngã có 4

1. Linh hồn> không hề có, cho rằng có linh hồn là tà kiến.
Các định nghĩa sau đây thì có:

2. Thiện pháp
3. Tâm
4. Chế định

Tự ngã (mang tính chất vô thường, biến hoại) thì có!
Linh hồn hay tiểu ngã thì không có, đó là giáo lí đạo Phật theo tôi.

Giáo lí có viết về khái niệm tư ngã, đại ý:
Ai quý trọng tự ngã của mình hay quý trọng tự ngã của tha nhân.
Công nhận sự hiện hữu của một cái tự ngã mang tính chất vô thường không mâu thuẫn với giáo lí của Phật về vô ngã (anatta), lí do là pp không công nhận 1 cái ngã thường hằng hay linh hồn mà thôi.


1. Một định nghĩa về vô ngã theo wiki:

Vô ngã (無我, sa. anātman, pi. anattā), là một trong Ba pháp ấn (sa. trilakṣaṇa) của sự vật. Chân lý Vô ngã là pháp ấn chỉ có trong Phật giáo, cho rằng, không có một Ngã (sa. ātman, pi. attā), một cái gì trường tồn, bất biến, cốt tủy, vững chắc, tồn tại nằm trong sự vật mà không phụ thuộc vào cái khác. Nghĩa là sự vật có mặt là do duyên sinh (tùy thuộc điều kiện) khởi phát, chứ sự vật không có quyền gì với sự sinh ra và sự hoại diệt của chính nó. Như thế, theo đạo Phật, cái ngã, cái "tôi" là không có mà chỉ là một tập hợp của Ngũ uẩn (sa. pañcaskandha), luôn luôn thay đổi, sinh diệt. Chú ý thêm rằng: Vô Ngã là một trong 3 pháp ấn. Hai pháp ấn còn lại là Khổ và Vô Thường. Cho dù, Đạo Phật có ra đời hay không, cho dù loài người có tồn tại hay không thì 3 pháp ấn này vẫn hiện diện trong vũ trụ như một chân lý: mọi pháp hữu vi (pháp có sinh thì có diệt) thì là Khổ, Vô Thường, Vô Ngã. Pháp Vô Vi (pháp không có sự tạo tác nên không có sự diệt) cũng là vô ngã. Pháp Vô Vi không có tính chất Vô thường và Khổ như pháp hữu vi. Để dễ hiểu, cần nhớ câu này: cái gì có sinh thì phải có diệt là vô thường; cái gì vô thường thì là khổ; cái gì khổ mà nó biến đổi theo duyên sinh (không tùy thuộc vào ý muốn của nó) thì là vô ngã.
--
http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B4_ng%C3%A3

2.

KINH VÔ NGÃ TƯỚNG
Anatta-lakkhana Sutta (SN 22.59)

Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỳ-khưu: "Này các Tỳ-khưu". – "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3) – Sắc, này các Tỳ-khưu, là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì sắc là vô ngã, sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
4) Thọ, này các Tỳ-khưu, là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì thọ là vô ngã, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
5) Tưởng, này các Tỳ-khưu, là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, nếu tưởng là ngã, thời tưởng không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được tưởng như sau: "Mong rằng tưởng của tôi như thế này! Mong rằng ưởng của tôi chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì tưởng là vô ngã, tưởng đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các tưởng: "Mong rằng tưởng của tôi như thế này! Mong rằng tưởng của tôi chẳng phải như thế này!"
6) Các Hành là vô ngã, này các Tỳ-khưu, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì các hành là vô ngã, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!"
7) Thức là vô ngã, này các Tỳ-khưu, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì thức là vô ngã, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
8)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
9)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Thọ là thường hay vô thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
10)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Tưởng là thường hay vô thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
11)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? các Hành là thường hay vô thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
12)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
13)
– Do vậy, này các Tỳ-khưu, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm thọ gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm tưởng gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm các hành gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
14) Thấy vậy, này các Tỳ-khưu, bậc Đa văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
15) Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỳ-khưu hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỳ-khưu được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.


KINH LỬA CHÁY
Aditta-pariyaya Sutta (SN 35.28)

Vài tháng sau khi giác ngộ, Đức Phật giảng bài pháp nầy cho 1,000 tu sĩ theo phái thờ thần lửa đồi Gayasisa. Qua lối giảng siêu việt của Ngài, Đức Phật đã dùng ví dụ về lửa cháy (lửa tham, sân, si) để dạy về tâm xả ly đối với các cảm thọ qua sáu căn. Sau khi nghe bài giảng nầy, toàn thể thính chúng đắc quả A-la-hán.

*
1) Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasìsa cùng với một ngàn Tỳ-khưu.
2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-khưu:
–Tất cả, này các Tỳ-khưu, đều bị bốc cháy. Và này các Tỳ-khưu, tất cả cái gì đều bị bốc cháy?
3) Mắt, này các Tỳ-khưu, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
4) Tai, này các Tỳ-khưu, bị bốc cháy. Các thinh bị bốc cháy. Nhĩ thức bị bốc cháy. Nhĩ xúc bị bốc cháy. Do duyên nhĩ xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
5) Mũi, này các Tỳ-khưu, bị bốc cháy. Các hương bị bốc cháy. Tỷ thức bị bốc cháy. Tỷ xúc bị bốc cháy. Do duyên tỷ xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
6) Lưỡi bị bốc cháy. Các vị bị bốc cháy. Thiệt thức bị bốc cháy. Thiệt xúc bị bốc cháy. Do duyên thiệt xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
7) Thân bị bốc cháy. Các xúc bị bốc cháy. Thân thức bị bốc cháy. Thân xúc bị bốc cháy. Do duyên thân xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
8) Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị bốc cháy. Do duyên thân xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
9) Thấy vậy, này các Tỳ-khưu, vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các thinh, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc. Do duyên nhĩ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc. Do duyên tỷ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc. Do duyên thân xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa".
10) Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
11) Và trong khi lời giảng giải này được nói lên, tâm của một ngàn Tỳ-khưu ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
--
http://thuvienhoasen.org/a8139/ba-bai-phap-dau-tien

bondongtam-locuyen

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

1.5.2015

Nhà có cây hoa tím, nơi đây kỉ niệm nhiều 1980-1987

Hi Mit,

Hôm nay đi nướng thịt
Nhưng anh không hề nướng
Vì ai đó đã nướng sẵn
Dành thời gian trò chuyện

Anh đem theo chai rượu
20 năm cũ quý
Mời các bạn thân

Anh Hải mời về nhà
Cho cái CD về Thiền
Rồi sau đó dẫn đi nghe Salsa

Về nhà trước trời tối
Với tâm trạng khá vui
Sau một buổi chiều sinh hoạt
Khá vui!

ĐỗNguyễn
--